Trang Nhà |  Nguyệt San |  Lời Chúa  |  GĐ La Vang |  Hành Hương |  Lich CG 2014 |  Quỹ Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print  
  Dân Chúa
  Trang Thơ Dân Chúa
  Biến Cố Trong Tháng
  Văn Hóa Việt Nam
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Sinh hoạt Cộng Đoàn
  Chúc Mừng
  Phân ưu
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Impressum
0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits0012804595 visits
Trang NhàTin tức 2008Single-News

Chủ Đề
01-05-04 11:03 Age: 11 yrs

KHOA LUẬN GIÁO (SCIENTOLOGY) LÀ GÌ?

Category: Chủ Đề

BY: HÒA GIANG ĐỖ HỮU NGHIÊM TỔNG HỢP

I. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NGƯỜI KHAI LẬP KHOA LUẬN GIÁO
(1) L. Ron Hubbard (1911-1986): cuộc đời đầy ắp biến cố
Sinh ngày 13.03.1911 tại Tilden, bang Nebraska, Mỹ và chỉ sáu tháng sau, cậu bé sơ sinh Ron đã sớm theo gia đình, di chuyển đến Durant, Oklahoma. Vì cha cậu, Harry Ross Hubbard, dường như cũng ưa thích chuyện thần tiên, hồn ma, đồng bóng, là một sĩ quan Hải Quân, Mẹ đảm đương công việc gia đình, nên cuộc đời của L. Ron Hubbard (LRH) trải qua khá nhiều giai đoạn liên tục di chuyển và tiếp xúc với nhiều loại người và ngoại cảnh đa dạng, dẫn đưa Ron đến KLG như một giáo phái, và trở thành nhà sáng lập ra giáo phái mới này.
(1.1) Tích lũy kiến thức từ thời thơ ấu luôn biến động(1913-22)
Từ năm 1913, gia đình Ron lại chuyển đến Kalispell ở bang Montana. Chính ở đây, Ron có dịp chơi gần gũi với người Blackfoot Indians (1). Ở Helena, thủ phủ của bang Montana, cậu có dịp quan hệ đặc biệt với một thày lang dân tộc bản địa Blackfoot Indians. Một phần nào, thuật phù thủy của bộ tộc Indians được truyền cho cậu bé hiếu kỳ loi choi này, ngay lúc cậu còn rất nhỏ tuổi.
Từ Mùa Xuân 1918, Ron lao mình vào cuộc phiêu lưu với ông nội từ Helena đến Portland ở Oregon; khi trở về nhà lần này, cậu đã một mình đến thăm cha ở Tocoma, bang Washington, rồi cuộc đời trôi nổi của gia đình kéo Ron đi theo đến San Diego, và Oakland ở California vào năm 1921.
(1.2) Tham gia Phong trào Hướng Đạo (1923-27)
Năm sau, trong chuyến đi Puget Sound ở bang Washington, Ron sớm gia nhập phong trào nam hướng đạo “Boy Scouts of America” tháng 4.1923. Cậu chu du tháng 11.1923 trên chiến hạm USS U.S.Grant từ San Francisco đến New York và Washington DC qua ngả kinh đào Panama. Trên chuyến hải hành, thiếu niên Ron được làm quen với viên Joseph Snake Thompson mới về từ Vienna, sau khi viên sĩ quan này học môn phân tâm học với Sigmund Freud, nhờ đó Ron được học hỏi thêm những chiều sâu của con người. Tại Washington, Ron được thêm nhiều huy chương trong tổ chức Hướng Đạo tháng 12.1923.
Trong thời gian từ 1924 đến 1929, Ron có thêm huy chương về Điện học, Sức Khỏe Cá Nhân, Nhiếp Ảnh, Y Tế Công Cộng, Sơ Cứu An Toàn, Nghề Thủ Công, Bơi Lội, Phát Triển Thể Lý và Thám Hiểm. Với tất cả những kiến thức đa năng đó, Ron được cấp huy chương Hướng Đạo Đời Sống rồi Hướng Đạo Ngôi Sao, Hướng Đạo Phượng Hoàng, và lên đến một Phụ Tá Trưởng Hướng Đạo tại Montana (1924). Năm 1925, di chuyển đến Seattle, Ron theo học Trường Trung Học Queen Anne.
Tốt nghiệp trung học năm 1927, Ron đến San Francisco, rồi đến thăm cha đóng quân tại Guam, qua ngả Hawai, Nhật Bản, Trung Quốc, Phi Luật Tân, Hồng Kông. Chuyến du hành đầy kỷ niệm phiêu lưu lần này gần như chiếm trọn vẹn tâm trí của Ron.
(1.3) Hoạt Động Quân Đội(1927-1941)
Gia nhập Sư Đoàn Lục Quân 163 Vệ Binh Quốc gia, rồi trở lại Phương Đông trên chiến hạm USS Henderson: Trung Hoa, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Java. Tại Trung Quốc, Ron làm bạn với nhiều sĩ quan tình báo Anh, nhiều nhà sư Phật giáo, nhiều quân nhân Hải Quân Hoa Kỳ, nhiều phù thủy dòng Kublai Khan thời Nguyên Mông. Trở lại quê hương bên Mỹ, cậu học thêm hết chương trình trung học nữa tại Washington, DC, trường Woodword for Boys.
Năm 1930, cậu thanh niên Ron ghi danh theo học George Washington University ngành kỹ thuật, vật lý nguyên tử và hạt nhân, học hỏi riêng tư về bí ẩn của con người. Ron lại gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ, làm trung sĩ khoan địa chất, rồi làm thành viên đội thăm dò vùng biên giới Mỹ-Canađa.
Trong thời trưởng thành 1934-1938: viết tiểu truyện giả tưởng, hoạt động du hành, bí truyện, viễn thám, phim truyện, điện ảnh, chụp hình,...
Trong thế chiến II, vào ngành tình báo hoạt động ở Úc Châu, lại sang ngành Hải Quân, với cấp bậc Trung Úy Hải Quân tham gia hoạt động ở nhiều vùng biển trên Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
(2) Hình thành cơ sở triết giáo
Bị thương năm 1941, được chuyển về nằm tại bệnh viện Hải Quân Oak Knoll, Ron có nhiều cơ hội tiến hành nhiều thí nghiệm, khám phá nhiều điều khoa học mới lạ về con người. Sau khi phục hồi sức khỏe, Ron viết thêm nữa và năm 1949, viết tiếp những khám phá về lý thuyết và ứng dụng kiến thức Xuyên Hồn Luận (XHL Dianetics) mà ông nói đã tích lũy và nghiên cứu ròng rã trong 16 năm trời. Từ năm l950, một loạt sáng tác sách báo, giáo trình và phim ảnh đúc kết những thám sát nghiên cứu ra đời. Chính những tác phẩm này vừa định hình vừa loan truyền những tri thức về giáo phái mới của ông.
(3) Một kết luận về cuộc đời L. R. Hubbard
Ba lãnh vực chính có xu hướng hình thành nên tính cách con người đi vào sáng lập giáo phái mới này là: tuổi thơ với kinh nghiệm tập quán phù thủy của người bản địa Indians, những cuộc du hành phiêu lưu nuôi dưỡng nhiều câu truyện khoa học giả tưởng pha lẫn thần tiên; sau cùng là chiến thương lúc gần kết thúc thế chiến II khiến cho trí não phát triển theo một chiều hướng dường như nuôi dưỡng củng cố óc tưởng tượng phiêu lưu của L. Ron Hubbard mãnh liệt hơn, nhưng đưa Ron vào lãnh vực khoa học kết hợp với những nỗ lực muốn tìm hiểu tâm linh con người bằng thực nghiệm và dường như muốn gây một bất ngờ tâm linh nguyên tử cho thế giới ở thế kỷ XX về sau.
II. GIỚI THIỆU MỘT SỐ VẤN ĐỀ THUẬT NGỮ:
KLG có một số thuật ngữ diễn tả các ý niệm riêng biệt. Càng đi sâu vào chi tiết, càng có nhiều thuật ngữ diễn dịch mới. Đối với nền triết giáo mới này, hai thuật ngữ cơ bản đầu tiên làm chìa khóa giúp ta hiểu về là chính từ Scientology và kèm theo nó là Dianetics như một dẫn nhập giới thiệu.
(1) Định nghĩa Scientology
Từ Scientology do chính người sáng lập giải thích là đuợc thành lập với nguồn gốc từ la tinh scio (scire) có nghĩa là biết hiểu biết và tiếng logos, từ Hy Lạp có nghĩa là nghiên cứu, học hỏi về. Như thế scientology nghĩa theo chữ có nghĩa “biết cách làm thế nào biết”, và được hiểu là “học hỏi và xử lý tinh thần (linh hồn) liên hệ với chính mình, vũ trụ và cuộc sống khác”.
Vì cách phân tích đó, chúng tôi muốn phiên dịch từ scientology religion là khoa học luận giáo hay Khoa Luận Giáo (KLG) thay vì từ thông thiên học (3), vì có thể không có quan niệm “thiên” nào trong cách giải thích cơ bản đầu tiên của chính người khai đạo; nếu có, thì đó chỉ là ý nghĩa được củng cố và bổ sung về sau, khi có nhiều vấn đề đặt ra về các tiêu chuẩn xuất hiện cho một trào lưu giáo phái mới.
(2) Định nghĩa Dianetics
Từ Dianetics thành lập bởi hai từ có nguồn gốc Hy Lạp là Dia, nghĩa là xuyên qua, thấu suốt và nous, tức là tinh thần, hay linh hồn. Trong từ ngữ tiếng Việt, chúng tôi đề nghị có thể sử dụng thuật ngữ Xuyên Hồn Luận (XHL): Khoa học được nói là giúp con người hiểu được linh hồn chính mình. Một phương pháp luận giúp con người có thể giảm nhẹ những cảm giác và cảm xúc, sợ hãi vô lý, bệnh hoạn tâm thể lý ngoài ý muốn, gây ra do sự căng thẳng tâm thần. Nói chính xác theo ngôn từ của các thành viên KLG, nó là những gì mà người ta làm cho thân thể xuyên qua linh hồn.
Như thế có thể hiểu khoa luận giáo bao hàm mục đích của giáo phái mới này; còn xuyên hồn luận, đúng hơn, là phương pháp để đi tới những mục tiêu của KLG
III. MỤC TIÊU CỦA KHOA LUẬN GIÁO (KLG):
Theo những điều được công khai chính thức nói ra, một cách tổng quát, KLG nhắm đến:
“Một nền văn minh lành mạnh, không tội phạm, không chiến tranh, ở đó người có khả năng thì có thể sống thịnh vượng và người lương thiện có thể có nhiều quyền năng, và ở đó con người được tự do vươn tới những tầm cao vĩ đại hơn”. Đó là những mục đích của Khoa Luận giáo như diễn đạt của chính L. Ron Hubbard.
(1) Nền tảng và nguồn gốc KLG
Niềm tin tưởng và khát vọng của phái KLG này cho rằng triết giáo này đã tổng kết những ước vọng của các triết thuyết và giáo phái từ khi có lịch sử loài người trên trái đất. Những người chấp nhận quan điểm giáo phái của ông cho rằng tính nghiêm túc trí thức, tính hiếu kỳ, pha lẫn tinh thần phiêu lưu vô biên của ông đã gợi ứng cho cuộc truy tìm kiên trì lâu dài của ông.
(2) Những luận điểm nhận thức về lịch sử các luồng tư tưởng triết giáo.
Ta hãy theo dõi những diễn dịch chuyển biến nhận thức của Hubbard. Những kết quả nghiên cứu của ông không có trong KLG, nhưng được công bố trong lãnh vực khác, đó là Xuyên Hồn Luận. Theo quan điểm của KLG, thì trong lịch sử, việc tìm hiểu con người là trung tâm của các trào lưu triết giáo:
(2.1) Thời nguyên sơ, ta thấy người xưa tin rằng những biểu tượng như thế sẽ giúp họ bắt được con mồi hoang dã, và bảo đảm cho cuộc đi săn thú vật sẽ mang lại nhiều kết quả cho họ.
Sau đó, trước biết bao những huyền bí chung quanh mình, người Ai Cập đã hiểu biết sâu xa rằng con người không phải chỉ như loài hoang thú trong rừng mà cũng không đơn thuần chỉ là những cơ bắp, nhưng con người được phú bẩm cách nào đó một tia hữu thể tinh thần linh thánh. Chính tri thức khôn ngoan đó đã từng xây dựng nền tảng khá rực rỡ cho văn minh vĩ đại đầu tiên của nhân loại, kéo dài suốt cả 27 thế kỷ.
 Rồi, người Ấn Độ Cổ đại có quan niệm luân hồi: cuộc sống được ví như dòng chảy liên tục, vô thủy vô chung, Về sau Thái Tử Tất Đạt Ta Gôtama chấp nhận con người là một hữu thể tinh thần, có thể đạt tới giác ngộ. Nhưng Thích Ca không chỉ ra cho con người con đường đạt tới trạng thái giác ngộ mà ông nói tới, một cách có hiệu quả.
Trong xã hội Ba Tư và nhiều nơi thuộc thế giới cổ đại, vào thế kỷ thứ bảy trước Công lịch, Zoroaster sinh ra và trưởng thành trong một gia đình tư tế; sau đó ông cũng coi mình là một tư tế. Lìa bỏ quê hương, ông lập ra đạo Zoroaster (chủ thuyết Thiện Ác tương tranh), theo đó ông tin rằng con người luôn luôn phải vật lộn với điều xấu và tốt trong tâm mình.
 (2.2) Sang thế kỷ sau, tại Trung Hoa, Lão Tử để lại cuốn Đạo Đức Kinh chứa đựng kho tàng quí giá mà con người chờ mong: Đạo giáo chính là con đuờng tự nhiên mà vũ trụ đi theo. Con người liên kết chặt chẽ với vũ trụ; vì thế, khi con người sống và hành động hòa điệu với thiên nhiên, thì sẽ có cân bằng trong đời sống.
Còn ở Hy Lạp, Socrates được coi là người khôn ngoan nhất thế giới, chỉ vì ông biết rằng mình không biết gì cả. Bằng cách chất vấn có hệ thống, ông giúp cho nguời khác bỏ những thiên kiến của mình để cuối cùng, đi đến những kết luận riêng của mình.
Hy Lạp đã bị người Roma chinh phục và sau đó bị người man di bao vây.
Người Do Thái cũng tìm cách xác định ý nghĩa cuộc sống. Theo truyền thống Do Thái, chính Tổ Phụ Abraham là người hiểu biết rõ điều gì ở trung tâm vũ trụ và theo mạc khải, ông biết đó là niềm tin vào một Thiên Chúa có bản vị. Do Thái giáo là Giáo phái Mẹ sinh ra hai giáo phái độc thần lớn: Kitô giáo và Hồi giáo. Chính ba giáo phái này đang ngự trị thế giới.
(2.3) Thời Jêsu Kitô và Kitôgiáo. Từ hai ngàn năm qua, Jêsu Nazareth đã mang niềm hy vọng mới đến cho con người, giảng dậy cho mọi người biết cuộc đời này không phải là tất cả những gì con người hy vọng, con người không chỉ là xác thịt, mà còn có phần hồn và sẽ sống lại sau khi chết ở đời này. Ám tàng trong sứ điệp đó là lời hứa con người đau khổ vì danh Kitô, thì sẽ được sống vĩnh an muôn đời.
Tại Á Đông, văn hóa Trung Hoa Cổ đại tiếp nhận Phật giáo, giảng dậy con đường biết giác ngộ tinh thần, mặc dù vẫn bị Đạo giáo và tiếp sau là nhà nuớc chống đối, cho thiêu cháy hằng mấy trăm am viện Phật giáo, và bắt hằng trăm hàng nghìn nhà sư phải cởi áo hoàn tục.
Ở vùng đất Ả Rập, Mohammed xuất hiện và truyền giảng rằng chỉ có một Thiên Chúa và đem niềm văn minh văn hóa đó phổ cập trên toàn nuớc. Ông tạo điều kiện xây dựng nên một đế quốc Hồi giáo rộng lớn đến tận vùng Tây Ban Nha và biên giới Trung Hoa. Thập Tự Chinh: Thánh Chiến Hồi Giáo là nguyên nhân trực tiếp cho cuộc Thập Tự Chinh kéo dài mấy trăm năm.
Đại Hiến Chương năm 1215 của nhà vua John nước Anh biểu trưng cho thắng lợi của luật pháp trên cả Vua Chúa và như vậy, lý trí vượt thắng trên sức mạnh.
(2.4) Tới thời Khoan Dung từ châu Âu, Tân Thế Giới được lèo lái theo tinh thần Tuyên Ngôn Độc Lập của Thomas Jefferson. Ông đã viết: “Mọi người đều sinh ra bình đẳng, và được Thượng Đế phú bẩm cho một số quyền bất khả nhượng, trong đó có quyền Sống, Tự Do, và theo đuổi Hạnh Phúc”. Ánh sáng tự do tinh thần lại một lần nữa cháy lên.
 Charles Darwin đề cao Tiến Hóa. Con người, không ngoài ai khác, đi lên trong từng nấc thang biến hóa, và không thể bao giờ hy vọng có thể tự nâng mình lên trên nấc nhận thức lớn hơn. Lý thuyết con người từ bùn đất, tư tưởng cho rằng đời sống là một cảnh huống ngẫu nhiên (kết quả do một phản ứng dây chuyền trong đại dương nước ammonia, chẳng bao lâu bén rễ vững vàng trong cộng đồng khoa học).
Tư Tưởng Tâm Lý Duy Nghiệm: GS Wilhem Wundt là một nhà tâm lý học người Đức và đi theo chủ thuyết Mác ở Viện Đại Học Leipzig. Ông tuyên bố rằng linh hồn con người, nếu nó có, thì không thích hợp, vì con người chỉ có thể được hiểu theo hiện tượng vật lý có thể quan sát được.
 Sigmund Freud khai triển Phân Tâm Học, khi lý luận rằng mọi xung động của con người có mầm mống từ những ước vọng tình dục bị kiềm chế và không thể kiểm soát được. Và rồi, những xung động như thế được “phân tích” là có tính nguyên thủy và theo bản năng, không là gì khác với bản năng đã thúc đẩy một con vật.
Ivan Patrovitch Pavlov đưa phản xạ có điều kiện qua những thí nghiệm để khám phá được làm cách nào có thể được kiểm soát con người để phục vụ nhà nước tốt hơn. Ông lý luận rằng nếu người ta có thể làm cho con chó chảy nước miếng theo lệnh chỉ huy, thì con người cũng có thể làm y hệt.
Từ đó người ta tiến sang Phân Tâm Học Duy Vật. Vì xác tín rằng con người chỉ là một thể xác, khoa duy tâm lý và khoa phân tâm đã đưa ra ý tưởng con người không có linh hồn, chỉ có bộ não vật chất, một tập hợp các mô và tế bào thần kinh.
Chủ Thuyết Duy Vật lan tràn: coi tất cả chỉ là vật chất. Hy vọng, mơ màng, yêu đương, hưng phấn,... tất cả chỉ là các phản ứng hóa học ở trong bộ não. Theo đuổi lý thuyết này, nhà duy tâm lý cố tạo dựng nên một xã hội, nơi mà thân xác được tôn vinh hơn tinh thần, nhưng ở đâu có dồi dào của cải vật chất, thì ở đó trạng thái thoải mái của tinh thần con người vẫn quan trọng hơn.
Mục tiêu là một chế độ toàn trị. Ngày nay, nhiều tư tưởng mới bị các quốc gia toàn trị chống lại, và việc học hỏi được giới hạn cho một thiểu số người có đặc quyền, để những kẻ khác phải chịu thân phận dốt nát. Đốt sách vẫn là hiện tượng gặp thấy ở thời đại ta.
Trong lịch sử nền văn minh của chúng ta, đáng sợ nhất, là loài người đã phát triển những khả năng có thể phá hủy mọi cuộc sống trên trái đất.
Một người điên khùng nắm được quyền lực nào đó trong tay, có thể nổi cơn phát động cuộc tàn phá cuối cùng đối với tất cả mọi sinh vật còn sống. Không có một hiểu biết đích thực về con người, hay một kỹ thuật có thể tác động được để cải thiện con người, thì các chính phủ không thể rèn luyện nên những số phận riêng biệt của mình và hỗn loạn xảy ra là một khả năng rất thật cho xã hội các nước.
(3) Giải đáp theo quan điểm của Giáo phái Khoa Luận.
(3.1) Có lẽ KLG, luôn theo diễn dịch của tổ chức này, đã nắm bắt được khả năng cho sự hủy diệt sau cùng để mang niềm hy vọng cuối cùng cho nhân loại, một giáo phái thế kỷ XX, vận dụng một kỹ thuật thực sự có hiệu lực để đem con người đến một sự hiểu biết chính mình và các đồng loại của mình. Con người có thể tìm thấy những giải đáp cho những vấn đề muôn thuở không thời gian và có được tự do tinh thần đích thực với Khoa Luận Giáo.
(3.2) Nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật suốt một trăm năm vừa qua, hầu hết người ta ngày nay sống phú thịnh về vật chất hơn cả tổ tiên họ. Nhưng chất lượng cuộc sống của họ vẫn không cải thiện. Nhiều người thấy rằng phải đối diện với cái chết dễ dàng hơn là cả một đời người làm kiếp nô lệ cho giây chuyền lắp ráp sản xuất, trong khi hầu hết mọi người, theo kiểu ít kịch tính hơn, chỉ biết giam hãm cuộc sống vào nỗi thất vọng thầm lặng.
Hầu hết các cá nhân đều thực sự không nắm bắt lấy những nhân tố chi phối cuộc sống của họ. Nên mục đích của KLG: giúp con người cải thiện số phận của mình thông qua sự hiểu biết.
Trước KLG, những tiến bộ khoa học khủng khiếp của thời đại này không xứng hợp với những tiến bộ tương tự trong lãnh vực nhân văn. Tri thức của con người về vũ trụ vật lý đã tiến xa hơn tri thức của con người về chính mình. Tình trạng này có áp lực đưa đến kết quả là một sự bất thăng bằng, làm cho xã hội bất an và đe dọa tương lai của chúng ta.
Dù đạt được nhiều thành tựu, khoa học đã không giải đáp được nhiều vấn đề con người đặt ra cho chính mình từ bao đời:
Chúng ta là ai? Chúng là gì? Chúng ta từ đâu đến? Chúng ta đi về đâu? Chúng ta đang làm gì?
Những câu hỏi này luôn luôn là lãnh vực của triết học và giáo phái, nhưng những đáp số truyền thống trở nên không còn thích đáng trước xự xuất hiện của bom khinh khí. KLG rút ra những tiến bộ trong tri thức giúp ta hiểu biết khoa vật lý hạt nhân, đem đến những giải đáp hiện đại cho những câu hỏi này. Và nó cung cấp những phương pháp thực dụng khả thi giúp con người có thể đạt tới mục đích mà họ đấu tranh trong suốt hàng nghìn năm nay: hiểu biết chính mình và khi hiểu biết chính mình, hiểu biết rõ được người khác và cuối cùng hiểu biết chính cuộc sống!
(3.3) Khoa Học Luận coi mình là một tôn giáo và luôn nghĩ rằng tôn giáo này bảo lưu, kế thừa nhiều niềm tin chung của các giáo phái và triết học khác. Khoa Học Luận coi con người là một hữu thể tinh thần, là hữu thể có cái gì nhiều hơn chỉ là nhục thể và máu huyết. KLG tin tưởng rằng con người tiến bước đến mức giữ được tính liêm chính và các giá trị tinh thần của mình, và con người vẫn lương thiện và xứng đáng. Thực sự, con người trở nên xấu xa đến độ phải từ bỏ những đức tính tốt lành này.
 KLG tin rằng một cá nhân được tạo điều kiện để cá nhân có thể gia tăng các khả năng của mình, do đó có thể đối phó với cuộc đời tốt hơn, và có thể phân biệt được nhiều nhân tố trong cuộc sống dễ dàng hơn; cá nhân ở vị trí thuận lợi để giải quyết những vấn đề của mình và như thế làm cho cuộc sống riêng của mình tốt hơn. (5).
IV. SƠ NÉT VỀ TỔ CHỨC QUẢN TRỊ TRONG KLG
Cũng như nhiều giáo phái, KLG có nhiều hệ cấp cơ cấu và nhân sự đảm nhiệm các công việc với những trách nhiệm khác nhau.
(1) Các Nhà Thờ
Ngày nay, theo chính quảng bá của KLG, có tất cả 125 quốc gia thực hành KLG. Đơn vị cơ sở là những Nhà Thờ gồm một hàng giáo phẩm cử hành các tác vụ từ những kiến thức cơ bản nhất đến những học vấn tiền tiến nhất, đưa con người từ những vấn đề hàng ngày và mang con người đến sức sống (vista) tinh thần mà họ chưa hề chứng kiến từ trước (6).
Từ đầu những năm 1950, tin tức về các phép lạ của KXHL và KLG được phổ biến qua tiếp xúc cá nhân và truyền miệng. Những người đầu tiên đó là những người nghe điều trần thực địa, những nhóm và những đoàn truyền giáo xuống quần chúng.
Bên trên, là những nhà thờ KLG vững vàng, còn có những trung tâm (TT) KLG trong các thành phố và các điểm địa phương cho các hoạt động xa hơn của cộng đồng. Nơi đó các giáo dân đến học văn bản KLG và học để nghe điều trần
Phục vụ nhu cầu của các cộng đoàn và bảo đảm các tác vụ giáo phái được cử hành hợp với văn bản KLG, những nhà thờ KLG được tổ chức theo một cơ cấu giáo phẩm, gồm nhiều nhà thờ phục vụ giáo dân trực tiếp; cũng có những tổ chức quản trị, quán xuyến, yểm trợ và hướng dẫn các hoạt động.
(2) Điều trần thực địa và Nhóm XHL và KLG cơ sở:
Bài đọc nhập môn; băng thoại hình L R Hubbard; Hội thảo XHL Hubbard; Chuơng trình (CT) thanh luyện.
(3) Phái Bộ KLG:
Bài đọc, diễn thuyết, phim, băng thoại hình; Giáo trình (GT) mở rộng; GT cải thiện cuộc sống; Hội thảo XHL Hubbard; Thành quả qua GT thông tin; Tác vụ nhập môn; GT Trao mũ KLG; Mũ học viên; GT Thanh luyện, Nghe Điều trần XHL, KLG
(4) Tổ Chức Lớp V
Nhập Môn, Nghe Điều Trần XHL KLG
GT Giáo sĩ và Tấn Phong Giáo Sĩ
Thanh luyện (Clear): Tác vụ nhập môn; Buổi nhóm đặt tên, hôn nhân, đám tang, tấn phong; Tác vụ Chủ nhật học Giáo lý KLG; Buổi nhóm thứ Sáu với nhạc, chia sẻ, nghe diễn thuyết Hubbard. Nhưng cao điểm là trong lịch KLG là những ngày nghỉ lễ: Sinh Nhật Hubbard hay ngày của Người Điều trần, tại các TT: Clearwater, Fl, Los Angeles, CA, Saint Hill Manor ở East Grinstead, Anh quốc.
Lên Cấp trong Thang tinh thần.
(5) Trung Tâm Vĩ Nhân (TTVN): Tác vụ như Lớp V.
Nhưng thêm cho chuơng trình này là các nghệ sĩ danh tiếng tham dự sinh hoạt hay trưng bày, trình bày sản phẩm sáng tạo văn hóa nghệ thuật. Nghệ sĩ là những người có khả năng sáng tạo đặc biệt và họ tác động đến chuyển biến cả một xã hội và chính sự phục hưng tinh thần sáng tạo nơi con người văn hóa nghệ sĩ là một môi trường nâng cao cổ vũ khởi hứng khả năng sáng tạo của con người.
Để tôn vinh những vĩ nhân nghệ thuật như một biếu trưng cho tinh thần của cộng đồng xét như một toàn thể, Các TTVN có trên 11 thành phố lớn và trung tâm văn hóa trên Thế Giới. Những TT đó mở ra nguồn hỗ trợ cho một phạm vi rộng lớn các hoạt động từ thiện xã hội địa phương. TTVN tác động tinh thần phục hưng của chính nghệ sĩ và cộng đồng.
(6) Các tổ chức Saint Hill.
Đây là đầu nguồn di sản của KLG về kỹ thuật và tổ chức, tư 1959-66, một số biến cố có ý nghĩa đã diễn ra. Địa điểm tại Saint Hill, vùng East Grinstead, Sussex, bên Anh.
Những vụ sáng tỏ xuyên phá thực hiện ở đây, như những thành tựu đầu tiên ở cấp độ Operation Thetan. Tháng 4.1965, có 56-57 nhân sự, đến tháng Tám có 200 người!
(7) Những tổ chức tiên tiến.
Con người là một hữu thế tinh thần và chân lý nền tảng của KLG. Các bước Operation Thetan từ thấp đến cao được giảng dậy cho các đương sự.
V. KẾT LUẬN
Còn nhiều vấn đề đặt ra cho con người, và con người vẫn chưa thể và chắc chắn không bao giờ có thể giải quyết được. Nhưng nỗ lực nhỏ bé của một Hubbard muốn có một phát minh lớn lao tầm cỡ quả bom nguyên tử tinh thần: đó là Khoa Luận giáo của ông. Phạm vi bài viết này chưa cho phép những phân tích sâu xa hơn. Khi con người trở thành trung tâm vũ trụ, thì Thực Tại Tối Cao chỉ còn là một bóng mờ được nói đến một cách chiếu lệ cho con người, nhất là những ai chưa là thành viên của KLG, khỏi có mặc cảm vô thần duy nhân!   
---------------------
1 Thổ Dân Hắc Túc, hay Chân Đen
2 1).Dianetics: the Modern Science of Mental Health - Xuyên Hồn Luận: Khoa Học hiện đại và sức khỏe tâm thần (3.1950)
2).Dianetics: The Evolution of A Science - Xuyên Hồn Luận: Biến Hóa của Một Khoa Học (5.1950)
3).Science of Survival - Khoa Học về Tồn Tại Sống Sót (Hubbard College, Kansas, Fall.1951)
4). Purification Rundown - Tĩnh Thanh Tâm (1979)
5). Key to Life Course - Giáo Trình Chìa Khoá Cuộc đời (79)
3 Từ Thông Thiên Học thường được dùng để phiên dịch thuật ngữ “Theosophy”. Có lẽ nó còn xuất phát ở chỗ những hành động tôn giáo mang tính cách phù thủy, bùa phép, ngải, lên đồng cốt, nhập hồn ma, pha lẫn kỹ thuật y khoa gây ảo giác, hay làm đê mê thần kinh như thứ máy đo tâm linh E-meter. Trong trạng thái đó, giới đồng cốt trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thường mô tả kinh nghiệm liên lạc với cõi âm, tức là thuộc thế giới vô hình hay âm hồn những người đã chết? Khi còn giảng huấn ở Viện Đại Học Đà Lạt trong niên khóa 1972-73, người viết bài nghiên cứu này đã hướng dẫn một nhóm sinh viên chứng chỉ “Văn Minh Việt Nam” nghiên cứu thực địa về các địa điểm đồng bóng tại Thị xã Đà Lạt. Trong một ý nghĩa nào đó, phải chăng giao thông với cõi âm, cũng có thể gọi là thông thiên?
4 Thực ra trong niềm tin Công Giáo: Đức Kitô trải qua mấy giai đoạn quan trọng nhất: Đức Kitô sau cuộc đời công khai giảng dậy, phải thụ nạn để sau ba ngày chịu táng trong mồ, Người đã sống lại. Đức Kitô sống lại mới là huyền nhiệm chủ đạo của đời sống Kitô hữu: Đức Kitô là Thiên Chúa thật đã toàn thắng đau khổ thập giá và cái chết để giải thoát con người, sống lại vĩnh cửu sau cái chết trần gian; chứ không chỉ là biểu trưng ý nghĩa tinh thần thắng vật chất
5 Trên đây là những điều được chính Tổ Chức KLG diễn dịch. Chúng tôi cố trình bày theo ý kiến và quan điểm của Tổ Chức mà chưa có nhận định và phê phán của chính quan điểm của Giáo Hội Công Giáo, các nhà nghiên cứu khác và cá nhân người viết bài nghiên cứu này.
6 Theo website quang bá của KLG, Triết-giáo (triết học tôn giáo) của Hubbard được mô tả trong hơn 5.000 bài viết, với một số cuốn sách, 3.000 băng nhựa gồm nhiều bài đọc. Hiện nay vẫn theo quảng bá của KLG, thì đây là một triết giáo ứng dụng. Ở website khác, KLT nói hiện có hằng nhiều triệu (?) thành viên qui tụ trên 3.200 nhà thờ, phái bộ truyền giáo và nhiều nhóm tại 154 (có chỗ lại nói chỉ tại 125?) quốc gia, có tác vụ Chủ Nhật, trắc nghiệm cá nhân.
Những cơ sở, tổ chức, phương tiện chính yếu hình thành
1).Hubbard Dianetics Research Foundation - Quỹ Nghiên Cứu Xuyên Hồn Luận Hubbard(New Jersey, 6.1950)
2).Hubbard Association of Scientologists International [HASI] - Hiệp Hội Hội Viên KLG Quốc Tế Hubbard (Phoenix, Arizona, 1952)
3).HASI in London - HASI tai Luân Đôn (1952)
4).First Church of Scientology in Los Angeles CA - Nhà Thờ KLG Đầu Tiên tại Los Angeles (2.1963)
5).Church of Washington DC - Nhà Thờ Thủ Đô Washington (3.1955)
6).Irish Organization - Tổ Chức Ái Nhĩ Lan (Dublin, 12.1955)
7).Many trips to - Nhiều chuyến đi đến Barcelona, Puerto Rico, Greece, India, Hawaii, SF, NY, St Hill, South Africa, Canary Islands, Rhodesia, Tangier, (1958-1986)
8).Saint Hill Manor - Biệt Thự Saint Hill (Sussex, England. 3.1959) [Worldwide Hearquarters of Scientology - Trụ Sở KLG Toàn Cầu]
9).Hubbard Geological Survey Expedition -Chuyến Viễn Thám Địa Chất Hubbard (St Hill. 9.1966)
10).Sea Organization - Tổ Chức Biển
11).Vessels for sea expedition Ố Tàu Viễn Thám Biển: Enchanter (Diana) (12.1966); Avon River (Athena, 1.1967).
 
Tài Liệu Tham Khảo:
A Brief History of L. Ron Hubbard. Website “What is Scientology?”    www.scientology.org; www.dianetics.org;           www.lronhubbard.org;
Official Church of Scientology: A Scientology Catechism.




mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.